Các Rủi Ro Doanh Nghiệp Việt Nam Gặp Phải Khi Kinh Doanh Theo điều Kiện Wto
Viết bởi: Lap du an dau tu Chuyên mục: Lăng kính nghề nghiệp 10/03/2010 11:00 AM
( 0 Bình chọn )1.Khái niệm chung về rủi ro:
Rủi ro được hiểu như là những sự biến diễn ra theo quy luật tự nhiên hoặc do thiên nhiên gây ra, cũng có đôi khi rủi ro do con người gây ra. Khi rủi ro xảy ra có thể dẫn đến tổn thất về tinh thần hoặc tổn thất về vật chất; hoặc cả hai. Cụ thể như làm cho doanh nghiệp bị mất lợi nhuận trong kinh doanh, thậm chí phá sản hay làm tổn hại hoặc mất uy tín của doanh nghiệp.
Dựa vào việc xem xét tổn thất mà rủi ro gây ra cho doanh nghiệp, cá nhân những người lãnh đạo có thể bị kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự.
Có một nghịch lý tồn tại là rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng cao và lĩnh vực nào mà ít rủi ro thì lợi nhuận không hấp dẫn. Các doanh nghiệp luôn luôn nhớ rằng rủi ro rất đa dạng và tác nhân gây ra rủi ro rất phức tạp.
2.Các nhân tố gây ra rủi ro:
- Sự biến:
Sự biến là loại sự kiện pháp lý xảy ra ngoài ý muốn của con người diễn ra theo quy luật tự nhiên (sinh, tử), hoặc do thiên nhiên tạo ra (bão, lụt, sóng thần, mưa đá, lốc xoáy, động đất,…)
Sự biến cũng có thể do bản thân con người gây ra, nhưng không do ý muốn chủ quan của con người (tai nạn, rủi ro), hay do hành động có mục đích của con người (do có một văn bản mới được ban hành).
- Hành vi:
Hành vi là hành động của chủ thể, có thể có ý thức hoặc không có ý thức (cố ý hoặc vô ý). Tuy nhiên, hành vi bao gồm cả hành vi và bất tác vi nếu xét từ góc độ khác nhau (ví dụ: che giấu tội phạm là hành vi, nhưng không khai báo tội phạm là bất tác vi. Cả hai đều mang đến hậu quả pháp lý) trong kinh doanh đây là yếu tố thường gặp và là yếu tố có thể loại bỏ được.
3.Phân loại rủi ro:
3.1.Rủi ro có yếu tố nước ngoài:
- Rào cản thương mại: Nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước và trong một số trường hợp vì mục đích chính trị, các nước đặc biệt là các nước phát triển sử dụng ngày càng nhiều và tinh vi các rào cản thương mại để ngăn chặn sự xâm nhập thị trường đối với hàng hóa xuất khẩu từ các nước khác, nhất là từ các nước đang phát triển.
Nếu như biện pháp thuế quan rất rõ ràng và dễ dự đoán thì các biện pháp phi thuế quan có thể phản ánh không trung thực lợi thế cạnh tranh do đó làm nhiễu tín hiệu chỉ dẫn quyết định của các doanh nghiệp càng làm tăng rủi ro cho doanh nghiệp trong giai đoạn hội nhập.
Đặc biệt, biện pháp phi thuế quan có tác dụng tạo được sự bảo ho một cách nhanh chóng, doanh nghiệp hoàn toàn bất ngờ, không chủ động được khi quốc gia đột ngột áp dụng những biện pháp phi thuế quan, để ngay lập tức chặn đứng dòng nhập khẩu trong trường hợp quốc gia nhận thấy kim ngạch nhập khẩu của một mặt hàng nào đó tăng nhanh gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự ở trong nước.
Bên cạnh đó, bộ máy thương mại quản lý quan liêu, năng lực thấp của các nhân viên hải quan, các văn bản pháp lý không được công khai có thể xem như là một rào cản không chính thức làm tăng rủi ro, ngăn cản doanh nghiệp tiếp cận thị trường.
Một rào cản thương mại có thể thuộc thẩm quyền và phạm vi quan lý của nhiều cơ quan với những mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, do đó rất khó khăn cho doanh nghiệp khi sử dụng, tiếp cận thông tin cũng như đánh giá tác động của các rào cản thương mại nên việc ra quyết định thâm nhập thị trường như thế nào là có lợi nhất chứa đựng rủi ro rất nhiều.
Lòng tự hào dân tộc cũng là một rào cản thương mại mà doanh nghiệp không thể lường trước được khi thâm nhập vào một thị trường mới.
Núp dưới chiêu bài bảo vệ sức khỏe con người, động thực vật, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, và do trình độ cao của cuộc sống, các nước phát triển có xu hướng sử dụng thường xuyên hơn (thậm chí lạm dụng) các biện pháp như hàng rào kỹ thuật, chống trợ cấp, chống bán phá giá…nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, việc đưa ra những quy định kỹ thuật quá khắt khe và bị kiểm soát ngặt nghèo thực sự gây ra nhiều rủi ro và tổn thất cho các nước đang phát triển và các nước nghèo có trình độ kỹ thuật chưa cao.
- Hệ thống luật pháp: Các nước phát triển xây dựng và ban hành thường xuyên hệ thống pháp luật trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế, từ đó hợp lại thành khung pháp lý chung với tư cách là “luật chơi chung”, thông qua đó lợi dụng ưu thế của nước phát triển để chèn ép nước đang phát triển và nước nghèo.
Bên cạnh đó xu thế nhất thể hoá nền kinh tế đã làm cho thế giới ngày càng hình thành nhiều khối liên kết kinh tế với cương lĩnh hành động chung, hệ thống pháp luật chung cho phép vừa gia tăng tốc độ phát triển tự do thương mại mạnh mẽ ở từng khu vực, vừa giúp các nước trong khối liên minh dựa vào nhau để chống lại sự xâm nhập từ các nước khác, ở các khu vực khác. Và khi liên minh kinh tế phát triển cao thì các khối kinh tế này ngày càng được mở rộng cả quy mô lẫn quan hệ (ví dụ: APEC, mối liên hệ đối tác giữa các khối với khối và với quốc gia).
Tuy nhiên, sự hợp tác kinh tế giữa các quốc gia thường không đạt được thỏa thuận, thỏa hiệp chung nên sự phát triển mạnh của một ngành ở một nước gây khó khăn cho sự phát triển ở những ngành tương tự ở nước khác, do đó trong mối liên kết hợp tác kinh tế các nước kinh tế phát triển và nước giàu có nhiều lợi thế.
- Sự bất cập từ các nước đang phát triển và kém phát triển: Các nước đang phát triển và nước nghèo chịu thiệt thòi hơn do không có nhiều ưu thế trong cạnh tranh với các nước giàu. Thực tế, nhiều nước đang phát triển đều lấy thị trường của các nước công nghiệp phát triển làm thị trường chủ lực để nâng cao kim ngạch xuất nhập khẩu. Hơn nữa, rất nhiều nước đang phát triển trông chờ vào nguồn vốn từ các nước công nghiệp phát triển, cho nên nền kinh tế của các nước này phụ thuộc vào tình trạng kinh tế, vào “thái độ” cư xử của các nước công nghiệp phát triển; và sự lệ thuộc gần như hoàn toàn ấy ngầm chứa đựng một rủi ro hết sức nghiêm trọng là sự đổ vỡ đột biến ở một nơi nào hay nước nào đó có thể gây hiệu ứng lan tỏa sang các nước khác và dân tộc khác, điển hình như 3 năm gần đây nền kinh tế của các nước phát triển giảm sút đã khiến cho nền kinh tế của các nước đang phát triển cũng bị rơi vào tình trạng trì trệ, phát triển gặp khó khăn.
Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng ở nhiều nước, đặc biệt là ở các nước đang phát triển và nước nghèo vẫn còn yếu ớt và khả năng gặp rủi ro rất lớn. Lợi dụng điểm yếu này Mỹ và các nước phát triển thông qua IMF và Ngân hàng thế giới (World Bank) sử dụng vốn thao túng thị trường đầu tư, có thể làm cho kinh tế một số nước thịnh vượng hoặc suy sụp nhanh chóng.
- Sự thay đổi quan hệ cung cầu và tập quán tiêu dùng: Đời sống con người ngay càng được cải thiện do việc thừa hưởng thành quả của cách mạng khoa học và công nghệ. Con người có thời gian nghĩ ngơi, thư giãn, quan tâm đến những vấn đề liên quan đến sức khỏe con người, từ đó đã làm phát sinh nhiều nhu cầu mới và tốc độ thay đổi nhu cầu cũng nhanh hơn thời kỳ trước rất nhiều lần. Với toàn cầu hóa, người tiêu dùng càng có nhiều cơ hội để lựa chọn sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của mình. Việc đáp ứng một nhu cầu hiện có sẽ là rất rủi ro và có khi còn cầm chắc thất bại do đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải biết đón đầu nhu cầu và tạo ra nhu cầu mới cho người tiêu dùng để giành thế chủ động, giảm thiểu rủi ro.
- Thay đổi giá và tỷ giá: Toàn cầu hóa kinh tế đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc nhưng cũng cho bộc lộ rõ tính bấp bênh, dễ chao đảo của hệ thống tài chính tiền tệ thế giới.
Sau các sự kiện: khủng hoảng tài chính tiền tệ các nước Đông và Đông Nam châu Á; sự kiện khủng bố ở Mỹ 11/09/2001; khủng hoảng giá dầu mỏ cuối năm 2002 và đầu năm 2003 cho thấy sự ảnh hưởng mang tính dây chuyền của các sự kiện đến nền tài chính các nước hết sức to lớn. Sự biến động về tài chính ở các “đầu tàu” kinh tế: Mỹ, EU, Nhật đều ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các khu vực và của mỗi nước.
Một doanh nghiệp khi hợp tác hoặc kinh doanh trực tiếp tại một quốc gia mà đồng tiền có sự biến động sẽ phải chịu rất nhiều rủi ro như:
- Rủi ro chuyển đổi: thể hiện sự mất mát về giá trị tài sản cố định/ lợi nhuận khi chuyển đổi từ một loại tiền tệ này sang một loại tiền tệ khác.
- Rủi ro trong giao dịch: thể hiện sự giảm sút về lợi nhuận/ lỗ khi tiến hành hoạt động giao dịch quốc tế. Rủi ro này xuất phát từ chế độ tín dụng trong thương mại trong thanh toán quốc tế.
- Rủi ro kinh tế: thể hiện tình trạng gia tăng lãng phí khi nhập lượng đầu vài và kể cả khi xuất lượng đầu ra do sự biến động về tỷ giá hối đoái.
- An ninh: Ở một số quốc gia tình hình an ninh chính trị bất ổn, có khi xảy ra cả khủng bố, chiến tranh thì việc nổ ra các cuoc khủng hoảng tài chính tiền tệ, đồng tiền mất giá, tiền lương thực tế giảm, đình công bãi công nổ ra mang tính phổ biến xã hội, sức phát triển của nền kinh tế giảm sút. Hoạt động kinh doanh tràn đầy rủi ro bất trắc.
3.2. Rủi ro do yếu tố trong nước
- Nội luật hóa: Thực hiện lộ trình hội nhập Việt Nam buộc phải thay đổi chính sách cho phù hợp với thông lệ quốc tế và đưa những điều luật quốc tế vào trong văn bản luật Việt Nam, việc điều chỉnh này được thực hiện một cách gấp rút để đảm bảo lộ trình hội nhập của ta đúng như dự kiến, do đó không có nhiều thời gian cho các doanh nghiệp tìm hiểu, thích nghi với những quy định, tiêu chuẩn mới ban hành để điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp cho đúng với đường lối và chủ trương của Nhà nước. Họ cứ thực hiện hoạt động kinh doanh theo kiểu “nhắm mắt đưa chân” vì không biết khi nào thì luật thay đổi, thay đổi như thế nào và tác động đến hoạt động kinh doanh của họ ra sao.
- Hệ thống luật pháp không minh bạch: Mặc dù vòng đàm phán song phương với Hoa Kỳ thành công nhưng phải thừa nhận một thực tế là hệ thống pháp luật Việt Nam chưa minh bạch. Hiện nay còn một loạt văn bản, chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ như hướng dẫn thi hành Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp, … phải kịp hoàn thiện cho kịp lộ trình cam kết. Việc Việt Nam đạt được thỏa thuận với Hoa Kỳ, hứa hẹn gia nhập WTO không có nghĩa là Việt Nam đã đáp ứng tiêu chí về tính minh bạch của hệ thống pháp luật theo yêu cầu.
Hiện tại pháp luật Việt Nam chưa thể gọi là minh bạch vì nhiều lý do:
Thứ nhất, lẽ ra người dân chỉ cần biết đến luật chứ không cần biết đến nghị định, thông tư (vì đó là văn bản pháp quy của cơ quan hành pháp, chỉ áp dụng cho những cơ quan này) nhưng hiện nay người dân và doanh nghiệp phải tuân thủ cả hệ thống văn bản mà cơ quan hành pháp đặt ra, thậm chí cả những văn bản đóng dấu mật.
Thứ hai, lẽ ra tòa án chỉ xử theo luật và án lệ nhưng hiện nay tòa chỉ xử theo luật, nghị định và thông tư.
Thứ ba, xét về quy trình soạn thảo luật thì lẽ ra các đại biểu Quốc hội phải chủ động soạn và trình các dự án luật nhưng thực tế hiện nay luật lại do các bộ soạn thảo. Tất nhiên bộ có lấy ý kiến người dân nhưng quan điểm chủ đạo của luật vẫn là quan điểm của bộ. Đại biểu Quốc hội khó có thể tranh luận tới cùng, một phần không có bộ máy giúp việc chuyên môn.
- Bảo đảm an ninh, sức khỏe con người, động thực vật, tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái: Cũng như những quốc gia đã gia nhập WTO, bên cạnh những hoạt động xúc tiến thương mại, hợp tác kinh tế. Việt Nam cũng phải chú trọng quan tâm đến vấn đề bảo đảm an ninh đất nước, giữ sự bình ổn chính trị, chăm lo sức khỏe con người, khai thác có hiệu quả nguồn động thực vật, tài nguyên thiên nhiên va môi trường sinh thái. Chính phủ Việt Nam cũng có thể sử dụng những vấn đề này như là một công cụ của biện pháp phi thuế quan để bảo hộ nền sản xuất trong nước, tạo ra rào cản đối với những doanh nghiệp khi tham gia hội nhập toàn cầu hóa.
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong kinh doanh: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam được xếp thứ 67 trên thế giới, thua kém nhiều nước trong khu vưc như: Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines … Nhiều doanh nghiệp còn bị động trong sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường. Doanh thu của một số doanh nghiệp có thể cao nhưng lợi nhuận thu được không tương xứng do tốn kém trong chi phí sản xuất, dây chuyền lạc hậu, năng suất không cao … Bên cạnh đó, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh: giành giựt khách hàng, giành thị phần, kênh phân phối,… giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau đã vô tình kìm hãm sự phát triển chung dễ dẫn đến phá sản, nguy hiểm hơn là dễ bị các tập đoàn nước ngoài “thôn tính”.
Những yếu tố khác như: nguồn lực nước ngoài không ổn định, thói quen kinh doanh truyền thống “mua đứt, bán đoạn”… cũng là một mối trở ngại rất lớn trên bước đường phát triển doanh nghiệp.
3.3.Rủi ro khách quan:
Những rủi ro trong loại này con người không dự báo, đo lường chính xác vì vậy các doanh nghiệp không thể chủ động dự báo và quản lý tốt rủi ro loại này, khi rủi ro khách quan này xảy ra thường doanh nghiệp phải trông chờ vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước để vượt qua rủi ro khách quan này.
- Thiên tai xảy ra thường xuyên và không dự báo được: Cùng với sự phát triển lớn mạnh của các nền kinh tế, toàn cầu hóa đang và sẽ ảnh hưởng rất sâu rộng đến tất cả các hệ sinh thái và làm suy thoái nguồn tài nguyên, cạn kiệt các nguồn năng lượng, làm mất cân bằng tự nhiên gây ra hiện tượng sóng thần, động đất, hạn hán, bão lụt thường xuyên hơn và không thể dự báo được chính xác. Do đó “sự nổi giận” của thiên nhiên đã gây ra những tổn thất về người và tài sản hết sức nặng nề.
- Các dịch bệnh phát triển có xu hướng ngày càng tăng và lan nhanh: Biến đổi khí hậu, môi trường là tác nhân làm phát sinh ra nhiều loại dịch bệnh mới lạ mà loài người chưa biết. Các hiện tượng khí hậu cực đoan cũng làm biến đổi hoặc gia tăng các hình thức dịch bệnh đã được biết trước đây. Dịch bệnh SARS, cúm gia cầm H5N1 đang hoành hành, gây tổn thất nặng nề về nhân mạng và kinh tế đều có liên quan tới biến đổi môi trường. Những quốc gia nghèo, đang phát triển có tính nhạy cảm rất cao đối với các tác động tới sức khỏe, đặc biệt là dịch bệnh phát sinh từ biến đổi môi trường toàn cầu. Những nước này thiếu các phương tiện kỹ thuật, kinh tế, nhân lực để đối phó với những tác động đó, gây nên sự biến động dài hạn trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế.
- Tác động tiêu cực của con người đối với môi trường: Con người vì thõa mãn nhu cầu không giới hạn của mình đã bằng mọi giá để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, thậm chí đánh đổi cả môi trường – “cái nôi” của cuộc sống con người.
Chính các yếu tố môi trường là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con người nhưng cũng chính môi trường cũng lại là nơi chứa đựng, đồng hóa “đầu ra” các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống. Do ý thức kém, không nhận thức được hậu quả của vấn đề sử dụng bừa bãi, cạn kiệt nguồn tài nguyên và thải ra môi trường nhiều chất thải độc hại không xử lý, con người hiện nay đang phải lãnh chịu hậu quả từ những hành động thiếu ý thức của mình.
Bên cạnh đó, toàn cầu hóa ngày càng gia tăng sự bất bình đẳng trong từng quốc gia, giữa các quốc gia và có nguy cơ biến một số nước đang phát triển, kém phát triển trở thành nguồn cung cấp tài nguyên rẽ mạt và là “thùng” chứa đựng các công nghệ phế thải của các nước giàu.
3.4. Rủi ro chủ quan (Do bản thân doanh nghiệp tạo ra)
- Từ các doanh nghiệp đối tác nước ngoài: Toàn cầu hóa, mở rộng cửa để khai thác lợi thế cạnh tranh, các tập đoàn kinh tế cấu ket với nhau để ngày càng mở rộng quy mô, thao túng thị trường thế giới do chiếm được vị trí thống lĩnh, độc quyền; tạo ra những rào cản vô hình ngăn cản các doanh nghiệp khác thâm nhập ngành.
So với doanh nghiệp Việt Nam, cac doanh nghiệp đối tác nước ngoài có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh và nắm rất vững pháp luật nước sở tại cũng như là các điều ước quốc tế trong lĩnh vực họ hoạt động (thể hiện rất rõ tính chuyên nghiệp và vững vàng trong đàm phán, thẩm định đối tác, ký kết hợp đồng). Thêm vào đó năng lực cạnh tranh cao có khả năng đảm bảo chất lượng đạt tiêu chuẩn, số lượng đáp ứng theo từng đơn hàng , mẫu mã phong phú và giao hàng đúng hẹn.
- Từ bản thân doanh nghiệp:
Nghiên cứu và nắm bắt thông tin về thị trường và khách hàng rất hời hợt, không được chú trọng:
• Doanh nghiệp đói thông tin, đặc biệt là thông tin về dự báo cung cầu, giá cả và xu thế biến động giá;
• Thông tin về thị trường và khách hàng, đặc biệt là những khách hàng mới còn sơ sài, chưa được hệ thống và phân tích nhận định để định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp.
• Thông tin về khả năng tài chính của khách hàng càng khó thu thập, do không đạt được độ tin cậy trong giao kết, cũng như là phía doanh nghiệp Việt Nam chưa có động thái công khai khả năng tài chính của mình. Đây là nhân tố hết sức quan trọng tác động đến quyết định của doanh nghiệp trong việc lựa chọn khách hàng là đối tác, nhưng vẫn chưa được quan tâm chú trọng.
Tâm lý kinh doanh chủ quan, nôn nóng:
• Do thiếu đầu ra nên doanh nghiệp nôn nóng trong việc chấp nhận khách hàng làm đối tác giao kết hợp đồng; chấp nhận chịu thua thiệt để có cơ hội ký được hợp đồng, xâm nhập thị trường, thậm chí sẵn sàng phá giá giữa các doanh nghiệp Việt Nam.
• Tâm lý mua rẻ bán đắt thường dẫn đến việc doanh nghiệp vô tình chap nhận những điều kiện bất lợi; chỉ nhìn thấy những cái lợi ngắn hạn mà không suy xét doanh nghiệp có thể gánh chịu tổn thất trong dài hạn.
• Có không ít doanh nghiệp bị đối tác nước ngòai lừa đảo đã phải gánh chịu những tổn thất to lớn về mặt vật chất và ảnh hưởng đến uy tín trong kinh doanh;
• Tư tưởng dễ người dễ ta thể hiện rõ trong đàm phán và giao kết hợp đồng, do đó rất khó phân định trách nhiệm khi tranh chấp.
Kinh nghiệm giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng với các đối tác nước ngoài còn non yếu:
• Khá nhiều doanh nghiệp không nắm được nguyên tắc và nguyên lý khi giao kết với khách hàng, thường với những hợp đồng có giá trị lớn phải dựa vào dự thảo do đối tác đưa ra.
• Trình độ ngoại ngữ nhìn chung còn bất cập, nhiều doanh nghiệp khi nghiên cứu hoặc soạn hợp đồng lúng túng nhất là khi đối tác dùng ngôn ngữ để cài đặt “bẫy”
• Dễ chấp nhận qua loa, đại khái, chưa nhận ra được tầm quan trọng của việc giao kết hợp đồng
Chưa nắm rõ pháp luật và phong tục tập quán quốc tế và nước ngoài:
• Nhiều doanh nghiệp chưa nắm được nguyên tắc, nguyên lý điều chỉnh của hệ thống các điều ước quốc tế. Với hệ thống pháp luật nước ngoài và sự điều chỉnh của chúng đối với hợp đồng như thế nào, doanh nghiệp cũng lúng túng và phải chịu theo sự diễn giải bất lợi của đối tác.
• Có rất nhiều thông lệ và tập quán được áp dụng khá phổ biến trong giao dịch thương mại quốc tế nhưng các doanh nghiệp chưa nắm vững, thậm chí chưa biết vận dụng.
Phối hợp yếu tố cung cầu giữa thị trường trong nước và thị trường thế giới chưa nhịp nhàng:
• Nhiều doanh nghiệp chưa có sự kết dính hai yếu tố nội ngoại trong từng thương vụ, sự khập khiểng này vô tình làm nhiều cam kết bị phá vỡ dẫn đến vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mà không nằm trong ý muốn của doanh nghiệp.
• Nhiều doanh nghiệp bị khách hàng nước ngoài khiếu nại và khiếu kiện, đặc biệt phổ biến là những khiếu nại về thời gian giao hàng và số lượng hàng được giao (thường khách lấy lý do sự vi phạm trên của doanh nghiệp nước ta gây cho họ nhiều thiệt hại)
3.5. Rủi ro khác:
Ngoài những rủi ro chính kể trên, trong quá trình kinh doanh theo điều kiện WTO, các doanh nghiệp Việt Nam còn có thể gặp một số rủi ro khác như:
- Rủi ro trong quá trình chuyên chở
- Rủi ro trong quá trình bốc dỡ, giao nhận
- Rủi ro trong quá trình bảo quản, lưu kho
- Rủi ro những trường hợp nhầm lẫn bởi những nguyên nhân khác nhau.
Theo Internet
Bình chọn cho bài viết Các Rủi Ro Doanh Nghiệp Việt Nam Gặp Phải Khi Kinh Doanh Theo điều Kiện Wto ( 0 Bình chọn )


